NGHIÊN CỨU |
|
Nghiên cứu Mỹ thuật Hiện đại:Tổ nghiên cứu Mỹ thuật Hiện đại đã luôn cập nhật, sưu tầm thông tin để làm tiểu sử cho các hoạ sĩ, nhà điêu khắc có tác phẩm lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Trong thời gian gần đây tổ đã làm tiểu sử cho các tác giả của khoá Mỹ thuật Đông Dương, khoá Mỹ thuật Kháng chiến và khoá Tô Ngọc Vân; nội dung thông tin về tiểu sử tác giả gồm: Họ tên tác giả, ngày tháng năm sinh, quê quán, địa chỉ, các giải thưởng tác giả đoạt được, các tác phẩm chính của tác giả.
|
| xem tiếp |
| |
NGHỆ THUẬT HÌNH KHỐI DÂN GIAN VIỆT NAM |
|
Nghệ thuật hình khối là thuật ngữ chúng tôi dùng để chỉ hai loại hình nghệ thuật có liên quan mật thiết với nhau là hội họa (hình) và điêu khắc (khối).
|
| xem tiếp |
| |
TRANH LỤA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM - TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT |
|
Hội họa Việt Nam, trên mấy ngàn năm chịu sự ảnh hưởng của quốc họa Trung Quốc.
Hội họa Trung Quốc, mà chủ yếu là tranh lụa và tranh thủy mặc, đã có lịch sử lâu đời. Riêng tranh lụa của Trung Quốc và tranh lụa của Việt Nam cũng có điểm tương đồng và khác biệt.
|
| xem tiếp |
| |
NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC CỔ VIỆT NAM |
|
Trong cái di sản mỹ thuật quý báu của dân tộc Việt Nam từ những thế kỷ xưa còn truyền lại, có một phần quan trọng và khá phong phú, ấy là phần của nghệ thuật điêu khắc.
|
| xem tiếp |
| |
MỸ THUẬT TRUYỀN THỐNG |
|
Nghệ thuật Dân gian là một thành tố quan trọng của mỗi nền văn hoá dân tộc. ở Việt Nam, nghệ thuật ấy bao gồm nghệ thuật của dân tộc Kinh (Việt) tại các vùng châu thổ, và nghệ thuật của các dân tộc thiểu số miền núi. Tất cả hợp thành nền văn hoá đa sắc tộc có cội nguồn lịch sử sâu xa.
|
| xem tiếp |
| |
TRANH LÀNG SÌNH |
|
Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà - một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh - một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng.
|
| xem tiếp |
| |
Tượng Quan Âm Nam Hải Thế Kỷ XVI (Thời Nhà Mạc)
Tác giả Trần Lâm Biền |
|
Ở nước ta, việc thờ Quan Âm đã có từ lâu, mà một biểu hiện của thời Lý là Chùa Một Cột (Hà Nội). Song, hình thái thờ Quan Âm Nam Hải (Quan Âm ở biển phương Nam) chỉ mới ra đời ở thế kỷ XVI... Quan Âm thường được thờ cùng Phật A Di Đà và Bồ Tát Đại Thế Chí, để trở thành bộ tượng Di Đà Tam Tôn. Di Đà Tam Tôn có nhiệm vụ tiếp dẫn chúng sinh vào cõi Cực lạc phương Tây. Quan Thế Âm cũng thường được thờ riêng, và được người đời quan tâm nhiều bởi đặc tính cứu khổ cứu nạn của Người.
Thế kỷ XVI đã chứng kiến buổi hình thành của một nền mỹ thuật riêng. Số là, trước đây, khi chưa phát hiện được đầy đủ hiện vật, trong số đó tượng Quan Âm chiếm một vị trí nổi bật, và nhất là khi chưa nhất trí về niên đại các pho Quan Âm đã dẫn, nhiều người trong chúng ta chưa chấp nhận rằng có một nền mỹ thuật của thời Mạc. Giờ thì chúng ta đã có đủ bằng cứ thay đổi ý kiến.
Cuối cùng xu hướng dân gian hóa ấy, một đặc điểm lớn của mỹ thuật Mạc, lại buộc chúng tôi phải suy nghĩ về những điều kiện kinh tế xã hội đã quy định sự xuất hiện của nó. Một lần nữa phải thú nhận nỗi bất lực tạm thời của chúng ta.
|
| xem tiếp |
| |
TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC DÂN GIAN VIỆT NAM |
|
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã viết nên những trang sử đẹp chống ngoại xâm và cũng chính những bàn tay đánh giặc, cày cuốc đó lại khéo léo tạo nên những sản phẩm giàu tính thẩm mỹ rất đặc trưng của dân tộc.
Nói tới nghệ thuật tạo hình dân gian, người ta thường nghĩ ngay đến chạm khắc, trang trí trên sập gụ, tủ chè hình chùm nho, con sóc, bộ ghế chạm con rối, chữ Phúc-Lộc-Thọ... Bên cạnh đó, nền nghệ thuật chạm khắc dân gian đồ sộ ở người Việt còn được lưu giữ trên các ngôi đình, chùa, đền nằm rải rác ở mỗi làng quê vây quanh bởi luỹ tre xanh thầm lặng, mà cho đến ngày nay chúng vẫn là những gì tinh tuý nhất góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam.
|
| xem tiếp |
| |
Vài nét về đồ Gốm Việt Nam trên thị trường Gốm quốc tế vào thế kỷ 14 đến thế kỷ 17 |
|
Từ sau khi độc lập thoát khỏi sự cai quản của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 10. Nghệ thuật đồ gốm Việt Nam bắt đầu phát triển và có những sắc thái riêng biệt mặc dầu ảnh hưởng của loại gốm thời Đường và Tống sau này vẫn thể hiện ít nhiều trên các loại gốm sản xuất ở đồng bằng Bắc bộ. Đồ gốm Việt Nam bắt đầu đi vào thương mai quốc tế vào khoảng cuối thế kỷ 13 hoặc đầu thế kỷ 14 (1). Lý do chính yếu là các vua đầu nhà Minh ngăn cấm thương mại đến các cảng phía Nam với các nước vùng Trung Đông và Đông Nam Á. Để thỏa mãn nhu cầu thị trường, kỷ nghệ đồ gốm ở các vương quốc như Ayuthaya (Thái Lan), Pegu (Miến Điện) và Việt Nam phát triển mạnh và thay thế nguồn đồ gốm từ Trung Hoa. Chính trong khoảng thời gian này cho đến giữa thế kỷ thứ 17, một loạt đủ các loại đồ gốm và men được sản xuất ở Việt Nam mang một ít sắc thái đồ gốm Trung Hoa cuối thời Nguyên và Minh.
|
| xem tiếp |
| |
Chuyên gia phục chế tranh Caroline Fry:
"Góp phần làm yên lòng những người yêu mỹ thuật
|
|
LĐ) - Bà Caroline Fry (ảnh) - người cách đây 4 năm đã giúp Bảo tàng Mỹ thuật (BTMT) VN phục chế thành công bức tranh "Em Thuý" (của HS Trần Văn Cẩn) - đang có mặt tại VN để đánh giá lại dự án phục chế tranh tại BTMT.
|
| xem tiếp |
| |
100 năm hội họa trừu tượng
|
|
Magnelli, Explosion lyrique n° 8, 1918 (phong cách trừu tượng trữ tình)
Một trong những bước ngoặt quan trọng của hội hoạ phương Tây vào những năm đầu của thế kỷ XX, là sự xuất hiện của những tác phẩm hội hoạ trừu tượng đầu tiên của : Picabia, Caoutchouc (1909), Kandinsky, Aquarelle abstraite (1910) ; Mondrian, Malevitch, Léger, Kupka, Magnelli (1911-1920), khẳng định sự tồn tại độc lập của chức năng thẩm mỹ đối với các chức năng khác của hội hoạ, như : chức năng thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật cái đẹp của thiên nhiên và hiện thực cuộc sống của con người, dưới các góc cạnh lịch sử, xã hội, đạo đức, tôn giáo, v.v.
Mặt khác, sự ra đời của hội hoạ trừu tượng còn khẳng định bản chất tự do của nghệ thuật, đi đôi với ý thức về vai trò quan trọng của chủ thể sáng tạo là người hoạ sĩ. Nghệ thuật không còn phụ thuộc vào những động cơ chính trị, tôn giáo, hay đạo đức nữa, mà trở thành một hoạt động thuần tuý thẩm mỹ, với những tiêu chuẩn, quy ước, không vượt ra ngoài phạm vi văn hoá.
|
| xem tiếp |
| |
CHẤT VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA CHẤT TRONG ĐỒ HỌA |
|
Khi nói tới nghệ thuật tạo hình chúng thường nghĩ ngay tới yếu tố đầu tiên là đường nét, màu sắc, hình khối nhưng ít khi đề cập tới một yếu tố khác không kém phần quan trọng đó là Chất. Dù là hội họa, đồ họa hay điêu khắc thì tất cả các loại hình này đều cần phải có sự rung cảm về chất, sau đó các yếu tố tạo hình mới làm tôn cái chất đó lên. Chất vừa là một khái niệm cụ thể, vừa là một khái niệm trừu tượng. Cụ thể khi ta hiểu Chất là chất liệu, là cái hữu hình, cái có thể sờ được, thấy được và trừu tượng khi chất là cảm giác về chất, là chất cảm của sự vật, là cái vô hình.
|
| xem tiếp |
| |
TRANH IN VIỆT NAM |
|
Quá trình hội nhập quốc tế là quá trình hoà mình của một quốc gia vào cộng đồng lớn hơn thông qua những giao lưu, tiếp biến về kinh tế, xã hội và văn hoá. Cuộc tiếp xúc giữa bên trong với bên ngoài của mỹ thuật Việt Nam thời nay không phải lần hội nhập quốc tế đầu tiên. Trước năm 1945 mỹ thuật nước ta đã từng tiếp cận với mỹ thuật Pháp, Nhật Bản. Từ 1945 đến thời điểm bắt đầu tiến hành Đổi Mới mỹ thuật Việt Nam đã mở rộng hơn qua tiếp thu, trao đổi nghề nghiệp với các họa sỹ từ các nước XHCN. Nhìn chung những tiếp cận quốc tế đó chủ yếu diễn ra một chiều - chúng ta học hỏi họ là chính, và trong không gian giới hạn. Mặc dù vậy những tiếp biến thẩm mỹ và kỹ thuật trong các giai đoạn ấy đã góp phần làm phong phú hơn các bộ môn mỹ thuật nước ta.
|
| xem tiếp |
| |
|